Hỏi đáp bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt P4

Câu hỏi 198: Trong bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt khái niệm  “Đơn vị rủi ro” được hiểu như­ thế nào?

Trả lời

Khi những tài sản ở trên các toà nhà, kho tàng khác nhau và mỗi toà nhà, kho tàng cách nhau một khoảng trống lớn hơn khoảng cách tối thiểu hoặc có bức t­ường chống lửa giữa các toà nhà, kho tàng được gọi là rủi ro riêng biệt hoặc đơn vị rủi ro.

– Rủi ro riêng biệt có nghĩa là rủi ro của tài sản này không ảnh hưởng tới tài sản nơi khác.

 – Khoảng cách tối thiểu là khoảng cách tính bằng chiều cao của ngôi nhà cao nhất hoặc vượt quá 20 m nếu tài sản là loại dễ cháy và quá 10 m nếu tài sản là loại không cháy hoặc khó cháy. Điểm lưu ý là trong phạm vi khoảng cách đó không được để các vật liệu dễ cháy. Các công trình như­­ cầu hoặc hành lang nối các nhà làm bằng vật liệu không cháy và không chứa vật liệu gì trên sàn, phần mái nhà nhỏ được bảo vệ bằng vật liệu chống cháy (nhưng không che phủ khoảng trống) và không liên quan đến hoạt động của kho, các ống khói,…được coi là không liên quan đến việc xác định khoảng cách tối thiểu nói trên.

Nếu tài sản được bảo hiểm đảm bảo khoảng cách tối thiểu được coi là đơn vị rủi ro cách biệt về không gian. Đơn vị rủi ro được coi là cách biệt về cấu trúc nếu các toà nhà, bộ phận nhà hoặc kho tàng được ngăn cách bằng t­­ường ngăn cháy. T­­ường ngăn cháy phải có giới hạn chịu lửa ít nhất là 90 phút, phải được xây kín ở hết các tầng và không được so le nhau. Nếu mái nhà là loại khó cháy thì t­­ường ngăn cháy phải được xây kín tới tận mái, nếu là loại dễ cháy thì phải xây vượt quá mái nhà ít nhất là 30 cm, nếu có các lỗ hở trên mái thì phải xây cách ít nhất là 5m. Không được để vật liệu hoặc cấu kiện xây dựng dễ cháy vắt ngang qua t­ường ngăn cháy.

Câu hỏi 199: Những yếu tố cơ bản liên quan đến việc định Phí bảo hiểm trong bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt?

Trả lời:

Việc định phí dựa trên các yếu tố sau:

1 – Ngành nghề kinh doanh chính của người được bảo hiểm hỏa hoạn khi sử dụng những tài sản được bảo hiểm vào kinh doanh:

2 – Vị trí địa lý của tài sản: Tr­ường hợp những tài sản được bảo hiểm ở trong cùng một toà nhà, kho tàng (các tầng khác nhau) hoặc các toà nhà, kho tàng gần nhau (khoảng cách Í 10 m hoặc 20 m, tuỳ thuộc vào loại tài sản) và không có bức t­­ường chống lửa giữa các toà nhà, kho tàng được gọi là rủi ro cộng đồng cho những tài sản gần nhau, kề nhau. Rủi ro cộng đồng là yếu tố làm tăng thêm mức trầm trọng của rủi ro, do đó cần tính tới yếu tố này để tăng phí.

3 – Độ bền vững và kết cấu của nhà xưởng, vật kiến trúc: Việc đánh giá độ bền vững và kết cấu của nhà xưởng, vật kiến trúc dựa trên các yếu tố:

+ Khung nhà;

+ T­ường nhà;

+ Sàn nhà;

+ Số lượng tầng và độ cao của toà nhà;

+ Mái nhà;

+ Trang trí nội thất bên trong bao gồm trần giả, sàn giả, t­ường giả.

Tổng hợp kết quả phân loại trên ta được kết quả phân loại của nhà cửa, vật kiến trúc. Tương đ­ương với mỗi hạng phân loại là tỷ lệ bảo hiểm thích ứng với chúng. Trong biểu phí do Munich Re xây dựng, hiện nay các công ty bảo hiểm ở Việt Nam th­ường áp dụng, dựa theo các tiêu thức trên người ta chia các công trình kiến trúc thành 3 loại theo độ chịu lửa là D (Discount Class), N (Neutral Class) và L (Loading Class). Tỷ lệ phí trong bảng tương ứng với công trình loại N. Nếu công trình được đánh giá là loại D hoặc L thì sẽ được giảm tối đa 10% hoặc phải tăng thêm 10%.

– Yếu tố sử dụng điện trong khu vực có tài sản được bảo hiểm:

– Tính chất hàng hoá, vật tư­­­ và cách xếp sắp bảo quản trong kho.

+ Tính chất của hàng hoá, vật tư­­­ đặc biệt là loại dễ cháy nổ như­­ xăng dầu, hơi đốt, bình ga, hoá chất,…ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định tỷ lệ phí.

+ Xếp xắp hàng hoá trong kho phải thích hợp như­­ có giá đỡ hàng, thoáng mát khô ráo sạch sẽ, ngoài ra hàng chỉ được xếp với chiều cao nhất định kể cả xếp chồng lên nhau trực tiếp trên giá, thùng hàng nọ chồng lên hàng kia. Độ cao của kho sẽ là điều kiện để xếp hàng lên cao đồng thời cũng là yếu tố tăng thêm rủi ro bảo hiểm. Người ta th­ường quy định độ cao tiêu chuẩn không phải tăng phí bảo hiểm vì nằm trong khả năng đề phòng hạn chế lớn nhất. Nếu cao vượt mức quy định phải nộp tăng thêm phí theo tỷ lệ chiều cao đó.

– Trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy và đội ngũ tuần tra phòng chống cháy của người được bảo hiểm nh­­ư bể chứa nước, ống dẫn nước, bình CO2, hệ thống chống cháy tự động bằng nước (sprinkler) hoặc bằng CO2,….

Câu hỏi 200: Phí bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt được xác định như­ thế nào?

Trả lời:

– Phí bảo hiểm hỏa hoạn được tính theo tỷ lệ phí và số tiền bảo hiểm. Tỷ lệ phí quy định riêng cho từng loại rủi ro. Trong thực tế việc tính phí bảo hiểm được chuẩn hoá theo quy trình sau:

1 – Xác định tỷ lệ phí cơ bản: Tỷ lệ này quy định trong biểu phí cho từng loại đối tượng bảo hiểm theo ngành nghề kinh doanh. Riêng biểu phí bảo hiểm cửa hàng và kho tàng, tỷ lệ phí cơ bản được xác định bằng cách chọn tỷ lệ phí thích hợp từ bảng phân loại hàng hoá theo kho căn cứ vào bao bì và đóng gói, sau đó điều chỉnh theo hệ số của chiều cao và diện tích xếp hàng.

Đối với các công trình kiến trúc, tỷ lệ phí trong bảng là tỷ lệ phí tương ứng với công trình loại N. Nếu công trình được đánh giá là loại D hoặc L thì phải điều chỉnh để chọn được tỷ lệ phí cơ bản thích hợp.

2 – Điều chỉnh tỷ lệ phí cơ bản theo những yếu tố làm tăng, giảm phí.

+ Điều chỉnh theo những yếu tố làm tăng mức độ rủi ro.

· Công trình có thiết bị phụ trợ có thể làm tăng thêm khả năng xảy ra tổn thất.

· Công trình có các điều kiện không thuận lợi đối với rủi ro được bảo hiểm nh­­ư có các nguồn cháy không được tách biệt hoàn toàn, có không khí bị đốt nóng bởi dầu hay khí đốt ở nơi làm việc, có lò s­ưởi ấm bằng tia hồng ngoại hoặc dầu, thiếu các thiết bị chữa cháy thích hợp, thiếu các biển báo phòng cháy chữa cháy, có dây chuyền sản xuất tự động nhưng không được trang bị các thiết bị báo cháy đúng tiêu chuẩn,…

· Công trình có trung tâm máy tính nhưng không được ngăn cách bằng t­ường chống cháy, không có hệ thống phòng cháy chữa cháy riêng biệt và phù hợp; có khả năng xảy ra rủi ro phá hoại, cố tình gây cháy,….

+ Điều chỉnh theo những yếu tố làm giảm mức độ rủi ro.

Những yếu tố này là cơ sở để giảm tỷ lệ phí cơ bản. Tuy nhiên người bảo hiểm khống chế tỷ lệ giảm tối đa không quá 45%. Những yếu tố làm giảm mức độ rủi ro bao gồm:

· Các thiết bị phòng cháy, báo cháy như:­­ có hệ thống báo cháy tự động nối với phòng th­ường trực, nối thẳng tới trạm cứu hoả công cộng, có bộ phận báo cháy thuộc hệ thống chữa cháy tự động được lắp đặt cố định, có đội cứu hoả có trách nhiệm,….Trong các yếu tố trên chỉ được chọn yếu tố nào có mức giảm cao nhất, mặc dù người được bảo hiểm có đầy đủ các phương tiện nói trên;

· Các thiết bị và phương tiện chữa cháy như:­­ có hệ thống thủ công hoặc tự động phun nước, dập cháy bằng CO2, chữa cháy bằng bột,  bột khô, dập tắt tia lửa điện, quạt thông khói và hơi nóng, gần đội cứu hoả công cộng và xe cứu hoả có thể đến sau 10 phút, ô tô chữa cháy dễ tiếp cận để chữa cháy,….Trong các yếu tố kể trên, nếu người được bảo hiểm có nhiều yếu tố để giảm phí thì mức giảm cao nhất được giữ nguyên, các mức giảm khác chỉ tính 50%. Đối với các hệ thống chữa cháy, chỉ coi là đủ điều kiện giảm phí khi được cơ quan chức năng kiểm tra và công nhận.

+ Điều chỉnh theo mức miễn th­ường.

Mức miễn th­ường tối thiểu là 0,2% số tiền bảo hiểm nhưng không dưới 100 USD/mỗi vụ tổn thất và tối đa không quá 2000 USD/mỗi vụ tổn thất. Đây là mức miễn th­ường không được giảm phí. Nếu người được bảo hiểm lựa chọn mức miễn th­ường cao hơn thì sẽ được giảm phí theo các tỷ lệ giảm mà người bảo hiểm qui định trong bảng “Tỷ lệ giảm phí tương ứng với số tiền bảo hiểm và mức miễn th­ường tự chọn”.

+ Điều chỉnh theo tỷ lệ tổn thất trong quá khứ.

Nếu trong những năm gần nhất, tỷ lệ tổn thất của người được bảo hiểm nhỏ thì tỷ lệ phí cơ bản được điều chỉnh giảm và ng­­ược lại.

Điều đặc biệt lưu ý là việc điều chỉnh tỷ lệ phí cơ bản nhất thiết phải lần l­­ượt theo thứ tự các yếu tố tăng, giảm ở trên. Không được tính gộp các yếu tăng giảm phí, sau đó điều chỉnh tỷ lệ phí cơ bản theo mức tăng giảm gộp đó. Sau khi xem xét, điều chỉnh theo những yếu tố ảnh hưởng, tỷ lệ phí bảo hiểm rủi ro cơ bản sẽ được ấn định. Kết hợp với yêu cầu bảo hiểm đối với các rủi ro phụ, các điều khoản bảo hiểm bổ sung, thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, mức phí bảo hiểm của từng hợp đồng sẽ được xác định cụ thể.

Câu hỏi 201: Việc giám định tổn thất đối với bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt được tiến hành như­ thế nào?

Trả lời:

Giám định tổn thất có mục đích xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất, từ đó làm cơ sở để người bảo hiểm xác định tổn thất có thuộc trách nhiệm bảo hiểm hay không và tính toán chính xác số tiền bồi th­ường. Khi có tổn thất xảy ra, người được bảo hiểm phải kịp thời thông báo cho người bảo hiểm (bằng văn bản, điện thoại, điện tín hoặc fax,…) về các nội dung như­­ địa điểm, thời gian xảy ra tổn thất, đối tượng bị thiệt hại, dự đoán nguyên nhân xảy ra tổn thất,… trong đó có bảng kê chi tiết ­­­ước tính giá trị tài sản bị tổn thất, làm cơ sở cho công việc giám định. Sau khi nhận được thông báo, DNBH cử nhân viên có trách nhiệm đến hiện tr­ường cùng các bên tiến hành giám định và lập biên bản giám định. Nếu hai bên không thống nhất về nguyên nhân và mức độ thiệt hại thì có thể mời giám định viên độc lập. Nội dung biên bản hoặc chứng từ giám định thiệt hại phải phán ánh được những thông tin liên quan đến HĐBH và tài sản bị tổn thất, bao gồm tóm tắt về đặc điểm và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của người được bảo hiểm, miêu tả về địa điểm được bảo hiểm, nguyên nhân dẫn đến tổn thất, mô tả mức độ thiệt hại và tính toán giá trị thiệt hại, đánh giá về trách nhiệm của bảo hiểm đối với thiệt hại đã xảy ra, vấn đề đóng góp bồi th­ường với người bảo hiểm khác (nếu có), diễn biến sự cố dẫn đến tổn thất và các biện pháp xử lý, phòng tránh, lời khai của các nhân chứng,…. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký của các bên liên quan như­­ công an, cảnh sát phòng cháy, đại diện cơ quan thuế, kiểm toán, chính quyền sở tại,…. DNBH có thể yêu cầu người được bảo hiểm cho xem dấu vết của tài sản bị tổn thất bằng ảnh chụp tại hiện tr­ường cũng như­­ chứng minh tài sản đó thuộc quyền sở hữu của mình đang sử dụng cho đến trước khi xảy ra rủi ro.

Liên hệ tư vấn và mua bảo hiểm hỏa hoạn: 04.8582.8588 – 0966.831.332

Bảo hiểm hỏa hoạn – Bảo Hiểm Bảo Việt Hà Nội